bệnh STD – Suckhoexahoi.com https://suckhoexahoi.com Trang thông tin sức khỏe xã hội Việt Nam Sun, 18 Jan 2026 14:39:31 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.4 https://cloud.linh.pro/suckhoexahoi/2025/08/suckhoexahoi.svg bệnh STD – Suckhoexahoi.com https://suckhoexahoi.com 32 32 Bệnh STD làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung và cách phòng ngừa https://suckhoexahoi.com/benh-std-lam-tang-nguy-co-ung-thu-co-tu-cung-va-cach-phong-ngua/ Sun, 18 Jan 2026 14:39:31 +0000 https://suckhoexahoi.com/benh-std-lam-tang-nguy-co-ung-thu-co-tu-cung-va-cach-phong-ngua/

Trong số các yếu tố gây ung thư cổ tử cung, ba bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) đóng vai trò quan trọng nhất mà phụ nữ cần nắm rõ.

1. Nhiễm virus HPV – nguyên nhân chính của ung thư cổ tử cung

HPV (Human Papillomavirus) là loại virus lây truyền qua quan hệ tình dục phổ biến nhất, chịu trách nhiệm khoảng 90% các ca ung thư cổ tử cung trên toàn cầu (theo WHO, 2023).

Hầu hết người nhiễm HPV không có triệu chứng và virus có thể tự tiêu hết. Tuy nhiên, một tỷ lệ nhỏ (khoảng 10-15%) sẽ duy trì nhiễm lâu dài, gây biến đổi tế bào cổ tử cung thành tổn thương tiền ung thư.

Khi các tổn thương này không được phát hiện và điều trị kịp thời, chúng có thể tiến triển thành ung thư thực sự. BSCKI Hoàng Trọng Điểm, chuyên gia Khoa Ung bướu, nhấn mạnh: “HPV là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung; việc phòng ngừa và sàng lọc sớm là chìa khóa giảm tỷ lệ mắc bệnh.”

HPV không chỉ ảnh hưởng đến phụ nữ mà còn gây ung thư dương vật, hậu môn, miệng và cổ họng ở cả nam và nữ.

2. Nhiễm Chlamydia – tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung

Chlamydia trachomatis là vi khuẩn gây bệnh STD phổ biến, lây lan qua quan hệ tình dục. Nhiều nghiên cứu, bao gồm một phân tích hệ thống của CDC (2022), cho thấy phụ nữ nhiễm Chlamydia có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn 1,5‑2 lần so với người không nhiễm.

Vi khuẩn này gây viêm kéo dài ở vùng chậu và cổ tử cung, làm suy giảm lớp niêm mạc bảo vệ, tạo điều kiện cho HPV xâm nhập sâu hơn và tồn tại lâu hơn, từ đó thúc đẩy quá trình ung thư hoá.

3. Nhiễm HIV – làm tăng tốc độ tiến triển của bệnh

Mặc dù HIV không trực tiếp gây ung thư cổ tử cung, nhưng nó làm suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng tiêu diệt các tế bào nhiễm HPV. Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (2021), phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung gấp 3‑5 lần so với người không nhiễm.

Hệ miễn dịch yếu khiến HPV duy trì lâu dài, tăng tốc độ chuyển đổi từ tổn thương tiền ung thư sang ung thư thực sự, đồng thời làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị.

Ảnh minh hoạ virus HIV thúc đẩy tiến triển ung thư cổ tử cung
HIV làm tăng tốc độ tiến triển của ung thư cổ tử cung.

4. Biện pháp phòng ngừa và sàng lọc sớm

Chuyên gia y tế đồng thuận rằng có hai chiến lược chủ chốt để giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung:

  1. Tiêm vaccine ngừa HPV: Vaccine hiện nay bảo vệ trước các loại HPV gây bệnh phổ biến nhất (16, 18, 31, 33, 45, 52, 58). Độ tuổi tiêm mở rộng từ 9‑26 tuổi lên tới 45 tuổi cho cả nam và nữ, giúp bảo vệ người trưởng thành chưa từng tiêm.
  2. Tầm soát định kỳ: Phụ nữ từ 21 tuổi trở lên (hoặc ngay sau khi có quan hệ tình dục) nên thực hiện xét nghiệm Pap smear và/hoặc xét nghiệm HPV DNA mỗi 3‑5 năm tùy theo kết quả trước đó.

Việc phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư cho phép can thiệp bằng phẫu thuật hoặc liệu pháp laser, với tỷ lệ chữa khỏi lên tới 95%.

Người đã tiêm vaccine vẫn cần duy trì lịch khám định kỳ, vì vaccine không bảo vệ hoàn toàn mọi loại HPV và không thay thế việc sàng lọc.

]]>